Liên kết website
Tra cứu từ điển
 
Thống kê truy cập
Tổng số truy cập: 528,853
Hôm nay: 1,439
Đang xem: 2,225
Sinh hoạt ngày 9/10 năm 2020 (19/10/2020)

 

 

 

Chuyên đề 1: Học và làm theo Bác về công tác dân vận

 

 

                                    

Học và làm theo Bác về công tác dân vận

 

          Ngày 15-10-1949, Báo Sự Thật đăng bài “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bút danh X.Y.Z. Bài báo ra đời ở thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn cầm cự, chuẩn bị bước vào những chiến dịch lớn trong cuộc trường kỳ kháng chiến anh dũng của dân tộc. Bài báo “Dân vận” chỉ hơn 600 chữ, bằng lối hành văn giản dị, rõ ràng, trong sáng, đã thể hiện rõ quan điểm, nội dung, lực lượng, phong cách dân vận của Người. Đây được coi là “cương lĩnh” về công tác dân vận của Đảng; là “cẩm nang” của cán bộ, đảng viên, nhất là những người trực tiếp làm công tác vận động quần chúng hiện nay và mai sau. 

Phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở tinh thần trọng dân, gần dân, lắng nghe và tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân. Phong cách này, bắt nguồn từ sự thấm nhuần quan điểm chủ nghĩa Mác-Lê-nin: quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; đồng thời, kế thừa tư tưởng “trọng dân” của dân tộc ta một cách thành tâm, thật lòng. Với lòng tin vô hạn về sức mạnh của nhân dân, đối với mọi người, bất kể ai, ở giai tầng nào, Hồ Chí Minh đều thấy rõ tinh thần yêu nước, khát khao độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Từ đó, Người thường xuyên liên hệ chặt chẽ với mọi tầng lớp trong xã hội, kiên trì lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, có biện pháp giải thích để họ hiểu rõ, đồng thuận với đường lối của Đảng, tạo nguồn sức mạnh để chiến thắng “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh. Với Người, “nước lấy dân làm gốc”; “nước ta là nước dân chủ”; “nhà nước của dân, do dân, vì dân”, và rằng: “gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

          Chính vì thế, “Việc dân vận rất quan trọng”. Dân vận là nhằm “… vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”. Thực tế cho thấy, Hồ Chí Minh đã cảm hóa được mọi người dân, kể cả những ai vốn chưa có cảm tình với Đảng Cộng sản và chính quyền cách mạng để làm cho họ tự nguyện đi theo sự nghiệp cách mạng và những người đã tích cực đi theo sự nghiệp cách mạng thì càng hăng hái hơn. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ở đâu, bất cứ cương vị nào, trong  công tác dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gương mẫu thực hiện, đồng thời giáo dục cán bộ, đảng viên phải “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Trong đó:

          Óc nghĩ, là sự suy nghĩ, tìm tòi, hiểu biết về lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, muốn vận động được quần chúng, nhân dân thì cán bộ phải hiểu biết đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; cần hiểu lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng nước nhà. Người cán bộ dân vận cần phải có năng lực tổ chức, tập hợp dân chúng để thực hành những công việc mà Đảng, Chính phủ giao cho, phải tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp xây dựng, ban hành được đường lối, chính sách hợp lòng dân.

          Mắt trông, là thấy rõ yêu cầu nhiệm vụ theo chức trách và thực tiễn cách mạng để thực hành cho đúng, cho trúng. Thực hiện tốt điều này sẽ tránh được bệnh quan liêu, chỉ ngồi nghe báo cáo rồi nhận định, phán xét. 

Tai nghe, là lắng nghe ý kiến phản biện để kịp thời xử lý những thông tin từ quần chúng. Nghe dân nói, hiểu được nguyện vọng chính đáng của dân và biết loại trừ những thông tin nhiễu, thiếu chân thực, không khách quan, không đúng sự thật là phương pháp mang tính khoa học trong phong cách Hồ Chí Minh. 
          Chân đi, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Hồ Chí Minh vẫn luôn dành thời gian đến với cơ sở, với dân như về gia đình mình. Những chuyến đi này, có khi Người không báo trước, chẳng cần xe đưa, xe rước theo kiểu “cờ rong, trống mở”,... làm phiền cơ sở và người dân. Xuống với dân, về với cơ sở, Người đi sâu vào tìm hiểu thực tiễn, thấu hiểu, cảm thông với những khó khăn của nhân dân, ở cơ sở và luôn dùng những lời nhẹ nhàng, cụ thể, sâu sắc để vận động nhân dân, khuyến khích cơ sở vượt khó vươn lên, nên thường đạt kết quả rất cao, để lại ấn tượng sâu sắc. 

          Miệng nói, là chức năng cơ bản của dân vận, nhằm tuyên truyền, cổ động nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Để dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ và làm theo, Hồ Chí Minh luôn nói đúng, trúng vấn đề, với phong cách giản dị và thái độ đúng mực. Với người già, các bậc lão thành thì lời lẽ cung kính lễ độ; với đồng chí, đồng bào thì thật thà, khiêm tốn; với phụ nữ thì đúng mực nghiêm trang; với nhi đồng là thương yêu quý mến, nhắc nhở, động viên, v.v. 

Tay làm, là nói được, phải làm được, thậm chí cần thiết thì làm mẫu để dân tin, v.v. Trong vận động quần chúng, khi “gặp mỗi vấn đề”, Hồ Chí Minh luôn “suy tính kỹ lưỡng” và “điều tra, nghiên cứu rõ ràng” để có quyết định đúng, trúng, hợp lòng dân, chứ không bao giờ hấp tấp, làm bừa, làm ẩu, gặp sao làm vậy. Khi làm xong công việc, Người đều tổng kết, rút kinh nghiệm để làm “khuôn phép” cho những công việc khác. Đây chính là thái độ khoa học, lý luận luôn gắn với thực tiễn, là “chìa khóa” để thực hiện tốt nhiệm vụ và rèn luyện chính mình. Trong thực hành dân vận, cách làm nào không phù hợp, thì Người kiên quyết sửa cho đúng, sát thực tư tưởng, trình độ, tâm tư, nguyện vọng của từng đối tượng dân vận. Khi hoàn thành công việc thì cùng với dân kiểm thảo lại, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng, v.v.    

Chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng những điều Người đã nói trong bài báo vào công tác dân vận hiện nay; tất cả cán bộ, đảng viên đều thực hiện tốt như điều Người dạy đó là phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng, nói, tay làm” thì công tác dân vận chắc chắn đạt hiệu quả cao.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay có những thuận lợi là cơ bản, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, cần xác định phải tăng cường hơn nữa công tác dân vận, thực hiện có hiệu quả công tác vận động quần chúng; xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân. Thiết nghĩ, để làm tốt công tác dân vận, phải xác định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trước hết là của cấp ủy, chính quyền, của đội ngũ cán bộ chủ chốt; phải nắm vững chủ trương, đường lối, quan điểm; phải tận tâm, tận lực, tận tình, tận tụy với nhân dân, phải gương mẫu đi đầu; phải đẩy mạnh việc xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống cho Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên, nhằm tạo động lực to lớn trong công cuộc đổi mới, góp phần đẩy mạnh xây dựng một Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

 

 


                                                                                Võ Thanh Bình
                                                                    

 

 

 

Chuyên đề 2:  Nghị định số 93/2020/NĐ – CP ngày 18 tháng 8 năm 2020 của Thủ tướng Chính Phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Thư viện

 

  

 

Mục 6    LIÊN THÔNG THƯ VIỆN

Điều 24. Nguyên tắc liên thông thư viện

 

1. Bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư của Nhà nước và tổ chức, cá nhân cho hoạt động thư viện.

 

2. Đáp ứng nhu cầu sử dụng tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin và dịch vụ thư viện của người sử dụng.

 

3. Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, hợp tác có thỏa thuận và có sự phân công, phối hợp giữa các thư viện.

 

4. Chia sẻ, liên kết các cơ sở dữ liệu, tài nguyên thông tin được đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định.

 

5. Tuân thủ quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ, công nghệ thông tin, an ninh mạng và quy định của pháp luật có liên quan.

 

6. Bảo đảm quản lý và sử dụng tài nguyên thông tin liên thông đúng mục đích, hiệu quả, đúng quy chế liên thông.

Điều 25. Hợp tác trong thu thập, bổ sung và sử dụng tài nguyên thông tin

1. Xây dựng các nhóm thư viện để điều tiết, phối hợp bổ sung, cập nhật và chia sẻ tài nguyên thông tin. Các thư viện tham gia nhóm trên cơ sở tự nguyện kết nối, chia sẻ, đóng góp tài nguyên của thư viện cho nhóm dùng chung; chỉ định một thư viện chủ trì là đầu mối liên kết các thư viện trong nhóm.

 

Thư viện tham gia nhóm đáp ứng các điều kiện sau:

 

a) Có đối tượng phục vụ tương đồng;

 

b) Có hạ tầng công nghệ thông tin bảo đảm và tương thích

c) Có nhân lực để đáp ứng, vận hành, khai thác, chia sẻ;

 

d) Có kinh phí duy trì hoạt động với nhóm;

 

đ) Trường hợp hợp tác theo phương thức sản xuất kinh doanh, ngoài việc tuân theo quy định tại các điểm a, b, c d khoản này, còn phải tuân theo quy định của pháp luật có liên quan.

 

                2. Hợp tác trong thu thập, bổ sung và sử dụng tài nguyên thông tin bao gồm: Phối hợp trong xây dựng tài nguyên thông tin dưới dạng in ấn; liên kết, chia sẻ trong bổ sung tài nguyên thông tin và quyền truy cập cơ sở dữ liệu, tài nguyên thông tin số.

 

3. Tài nguyên thông tin chia sẻ phải bảo đảm các điều kiện sau:

a) Bảo đảm tính hợp pháp

b) Được mô tả, lưu trữ, quản lý, khai thác theo cấu trúc đồng nhất, đáp ứng tiêu chuẩn tương ứng của ngành thư viện thế giới;

 

c) Bảo đảm tính thống nhất về quy trình khai thác và chính sách chia sẻ tài nguyên thông tin theo quy chế của nhóm;

 

d) Được quản lý bằng các phần mềm cho phép máy tính, điện thoại và các thiết bị điện tử khác có thể truy cập theo quy định của pháp luật.

Điều 26. Chia sẻ kết quả xử lý chuyên môn, nghiệp vụ, biên mục và sản phẩm thông tin thư viện

1. Thư viện được đầu tư kinh phí từ ngân sách nhà nước có trách nhiệm chia sẻ kết quả xử lý tài nguyên thông tin bao gồm dữ liệu về tài nguyên thông tin và các thông tin mô tả cơ bản về tài nguyên thông tin của thư viện được tổ chức theo cấu trúc nghiệp vụ thư viện (sau đây gọi là biểu ghi) với các thư viện khác trong nhóm theo quy định của pháp luật. 

2. Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, các thư viện trong nhóm có thể chia sẻ cơ sở dữ liệu biểu ghi; thiết lập mục lục phản ánh tài nguyên thông tin của từ 02 thư viện trở lên (sau đây gọi là mục lục liên hợp) theo các cấp độ sau: 

a) Chỉ được tra cứu và xem dữ liệu về tài nguyên thông tin; 

b) Được đọc trực tiếp; 

c) Được tải về đọc theo quy định (đối với tài liệu số) hoặc xác định rõ loại hình và mức độ khai thác (đối với tài nguyên thông tin khác); 

d) Phải trả giá dịch vụ theo quy định của thư viện, quy chế liên kết của nhóm và quy định của pháp luật. 

3. Trách nhiệm của thư viện chủ trì:

a) Duy trì và phát triển hệ thống dữ liệu dùng chung;

b) Hỗ trợ quản lý dữ liệu cho các thư viện trong nhóm; cấp quyền sử dụng và khai thác hệ thống;  

c) Kiểm soát chất lượng biểu ghi; chỉ đạo sự thống nhất và chuẩn hoá các biểu ghi của các thư viện trong nhóm;  

d) Hướng dẫn, hỗ trợ các thư viện trong nhóm về những vấn đề chuyên môn.

Điều 27. Liên kết triển khai dịch vụ liên thư viện

1. Liên kết triển khai dịch vụ liên thư viện bao gồm những nội dung cơ bản sau:

a) Thực hiện mượn liên thư viện đối với tài nguyên thông tin dạng in, dạng số hoặc đa phương tiện giữa các thư viện phục vụ người sử dụng;  

b) Liên kết, phối hợp trong cấp thẻ sử dụng thư viện cho người sử dụng trên cùng một địa bàn, trong cùng chuyên ngành, lĩnh vực hoặc hệ thống;  

c) Phối hợp, trao đổi tài nguyên thông tin, sử dụng các tiện ích, trang thiết bị thư viện để cung cấp dịch vụ thư viện phục vụ người sử dụng;  

d) Sử dụng các phương thức triển khai dịch vụ liên thư viện khác phù hợp với đặc thù của từng loại thư viện và quy định của pháp luật liên quan.  

2. Mượn liên thư viện thực hiện theo quy định sau:  

a) Tổ chức cho mượn tài nguyên thông tin giữa các thư viện theo quy định của thư viện tham gia liên thông và quy chế của nhóm;  

b) Thời hạn và số lượng tài nguyên thông tin được mượn thực hiện theo quy định của thư viện có tài nguyên thông tin;  

c) Người sử dụng thư viện đăng ký hoặc gửi yêu cầu mượn liên thư viện tại nơi cấp thẻ thư viện của mình; tiếp nhận tài nguyên thông tin thông qua thư viện nơi đăng ký làm thẻ hoặc trực tiếp tại thư viện có tài nguyên thông tin, qua bưu điện hoặc trên không gian mạng theo quy định của thư viện có tài nguyên thông tin.

Điều 28. Xây dựng mục lục liên hợp

1. Việc xây dựng, quản trị và phát triển mục lục liên hợp thực hiện theo nguyên tắc sau:

a) Xác định vai trò, quyền và nghĩa vụ của các thư viện thành viên tham gia xây dựng mục lục liên hợp; phân công thư viện chủ trì;  

b) Thống nhất quy định thực hiện chuẩn hóa về quy trình, nghiệp vụ trong xây dựng các biểu ghi của các thư viện thành viên;  

c) Thường xuyên cập nhật biểu ghi phản ánh thực trạng tài nguyên thông tin của thư viện;  

d) Gắn việc xây dựng mục lục liên hợp với hoạt động hợp tác trong thu thập, bổ sung và sử dụng tài nguyên thông tin, mượn liên thư viện.

  2. Việc đóng góp biểu ghi để tích hợp dữ liệu trong mục lục liên hợp thực hiện theo cơ chế sau:  

a) Các thư viện tham gia xây dựng mục lục liên hợp gửi biểu ghi đến thư viện được phân công chủ trì;  

b) Các thông tin, dữ liệu trong biểu ghi của thư viện tham gia xây dựng mục lục liên hợp bảo đảm các tiêu chuẩn chung, khi xuất ra đáp ứng đầy đủ các thông tin mô tả cơ bản về tài nguyên thông tin của thư viện gồm: Tên (nhan đề), tên tác giả, thông tin xuất bản, từ khoá, chủ đề, số đăng ký cá biệt, mã xếp giá và các thông tin khác theo yêu cầu đã được thống nhất trong nhóm;  

c) Đồng bộ các biểu ghi với hệ thống mục lục liên hợp đối với liên thông trong nước hoặc hệ thống mục lục liên hợp toàn cầu đối với liên thông quốc tế. 

3. Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện công cộng cấp tỉnh và các thư viện công lập có vai trò quan trọng được Nhà nước ưu tiên đầu tư có trách nhiệm phối hợp trong cập nhật, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu phát triển mục lục liên hợp quốc gia.

Điều 29. Cơ chế liên thông thư viện  

1. Thư viện được Nhà nước ưu tiên đầu tư chủ trì xây dựng, chia sẻ và khai thác tài nguyên thông tin dùng chung giữa các thư viện như sau:  

a) Tạo lập, chia sẻ dữ liệu, kết quả xử lý, tài nguyên thông tin số theo quy định của pháp luật;  

b) Biên soạn, xây dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thư viện dùng chung;  

c) Xây dựng và hình thành hệ thống mục lục liên hợp; quản lý các thư viện trong nhóm, kiểm soát chất lượng cơ sở dữ liệu; giải quyết các vấn đề kỹ thuật liên quan đến nghiệp vụ; bảo đảm an toàn, bảo mật và sao lưu hệ thống;  

d) Là đầu mối trao đổi tài nguyên thông tin, cung cấp quyền truy cập tài liệu số; phục vụ các yêu cầu sử dụng cá biệt.  

2. Các thư viện tham gia hợp tác trong việc bổ sung, mua quyền truy cập và chia sẻ tài nguyên thông tin nước ngoài như sau:  

a) Tạo lập, xây dựng, chuẩn hóa dữ liệu kết nối, chia sẻ, đóng góp tài nguyên của thư viện cho nhóm dùng chung theo điều lệ, quy chế liên kết;  

b) Tham gia xây dựng chính sách về mức độ chia sẻ, quyền truy cập của người sử dụng thư viện; chính sách thu phí, giá dịch vụ theo quy định hiện hành;  

c) Tận dụng kết quả xử lý tài nguyên thông tin, các sản phẩm và dịch vụ thông tin của các thư viện khác phục vụ người sử dụng;

d) Tài nguyên thông tin được xây dựng từ ngân sách nhà nước phải được liên thông, chia sẻ và sử dụng có hiệu quả.    

Điều 30. Phương thức liên thông thư viện  

1. Liên thông giữa các thư viện theo khu vực địa lý trên phạm vi quốc tế, khu vực, quốc gia, vùng, miền, trên cùng địa bàn.  

2. Liên thông theo nhóm giữa các thư viện có cùng chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ.  

3. Liên thông giữa các thư viện có cùng lĩnh vực, nội dung tài nguyên thông tin về khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ và các lĩnh vực khác.

4. Liên thông giữa các loại thư viện quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Thư viện. 

Bạn đọc có thể tải file nghị định số 93/2020/NĐ – CP  tại đây

 

 

 
Các tin khác
NHẬN XÉT BẠN ĐỌC
(Chưa có ý kiến nào được viết)
Cơ quan chủ quản: Sở Văn hóa, Thông tin, Thể Thao và Du lịch
Bản quyền thuộc: Thư viện tỉnh Bạc Liêu. Địa chỉ: Khu Trung Tâm Hành Chính tỉnh. phường 1 TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Tel: 84-0291.6558278; Fax:#### ;
Giấy phép đăng ký số: 222/GP-TTĐT
 Email::thuvient@baclieu.gov.vn
thuvienbl@yahoo.com.vn
Website: http://www.thuvienbaclieu.org.vn